Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 01/2023

Thứ sáu - 06/01/2023 06:42
Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn ban hành Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 01/2023. Đề nghị các Huyện, Thị, Thành Đoàn và Đoàn trực thuộc triển khai đến các cấp bộ Đoàn của đơn vị mình.
Học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình ngày 9/1/1950.
Học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình ngày 9/1/1950.
Nội dung tải tại đây: /uploads/news/2023_01/tai-lieu-sinh-hoat-chi-doan-thang-01.2023.doc
Những ngày đáng nhớ trong tháng 01:
- 01/01/1914: Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
- 06/01/1946: Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
- 07/01/1979: Ngày chiến thắng biên giới Tây Nam.
- 09/01/1950: Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam.
- 11/01/2007: 15 năm ngày Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) 
- 23/01/1952: Ngày hy sinh của nữ Anh hùng LLVTND, Liệt sĩ Võ Thị Sáu
- 27/01/1973: Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam

77 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên: Đổi mới, đồng hành cùng dân tộc

Trải qua 77 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã thể hiện tinh thần đoàn kết, tập trung trí tuệ, bản lĩnh, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của cử tri, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc.
Ngày 6/1/1946 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam, khi lần đầu tiên người dân thông qua lá phiếu của mình được quyền trực tiếp lựa chọn, bầu những người có tài, có đức vào Quốc hội để gách vác công việc nước nhà.
Thành công của cuộc Tổng tuyển cử đã đánh dấu sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một trong những cơ sở cần có đầu tiên của một Nhà nước là Hiến pháp, mà muốn có Hiến pháp phải có Quốc hội.
Vì thế, mặc dù tình hình đất nước đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc,” trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác vẫn đề ra nhiệm vụ vô cùng khó khăn là phải tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử càng sớm càng tốt: “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”
Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. 
Bản sắc lệnh ghi rõ: "Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16-17/8/1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên..."
Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn: “Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.”
Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bằng ý chí của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, toàn thể người dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 6/1/1946 - đi bầu cử Quốc hội.
Ở các tỉnh phía Bắc, mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại của kẻ thù, nhưng cuộc tổng tuyển cử vẫn diễn ra an toàn; còn các tỉnh phía Nam, nhất là ở Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới bom đạn ác liệt của giặc Pháp.
Cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành thành công tốt đẹp trên phạm vi cả nước.
Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau; 43% số đại biểu không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số.
Trong thành phần của Quốc hội có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc-Trung-Nam, các giới từ những nhà cách mạng lão thành, thương gia, nhân sỹ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa, đến đại biểu các thành phần tôn giáo, những người không đảng phái và các đảng phái chính trị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu với 98,4% số phiếu. Kết quả này là một bằng chứng về khát vọng độc lập, tự chủ của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Thắng lợi này là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.
Thắng lợi đó khẳng định đường lối, chủ trương của Đảng ta đúng đắn, sáng tạo, thể hiện khát vọng được độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử cũng khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
Đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên, là: “... kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc."
Xứng đáng là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
Trải qua 77 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện các quyền lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Về lập hiến, với vai trò lịch sử của mình, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Đánh giá về ý nghĩa của sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "... Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập... dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do."
Đây là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, là đạo luật cơ bản đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng thể chế nhà nước cách mạng trong thời đại mới.
Tiếp đó, trong thời kỳ kháng chiến cứu nước vô cùng ác liệt, với tinh thần tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp 1959 tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, khi non sông đã thu về một mối, ngày 15/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI được tiến hành trong cả nước và đã thu được thắng lợi rực rỡ.
Từ đây, chúng ta có một Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào quá trình khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Kế thừa, phát triển Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Quốc hội tiếp tục ban hành Hiến pháp 1980 - Hiến pháp của thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Và Hiến pháp 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu một mốc phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Ngày 28/11/2013, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Hiến Pháp 2013 đã được Quốc hội thông qua.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ “Nhân dân” được viết hoa để khẳng định và đề cao vai trò có tính quyết định của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Đây cũng là bản Hiến pháp được chuẩn bị công phu, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng của nhân dân, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đảm bảo chính trị, pháp lý vững chắc cho dân tộc ta, nhân dân ta và Nhà nước ta vượt qua những thách thức, khó khăn, vững bước tiến lên trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.
Về lập pháp, trong những năm qua, hoạt động lập pháp luôn được Quốc hội được đặc biệt quan tâm, nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đồng thời củng cố, hoàn thiện bộ máy nhà nước; góp phần quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế.
Cùng với đó, hoạt động giám sát cũng đạt được những kết quả tích cực, ngày càng sát với thực tiễn, lựa chọn được những vấn đề nổi trội, bức thiết trong xã hội.
Nhiều kiến nghị qua giám sát được tiếp thu, khắc phục, đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Phương thức tiến hành giám sát đã có cải tiến nhằm nâng cao chất lượng.
Thêm một dấu ấn đổi mới trong những năm gần đây của Quốc hội là hoạt động chất vấn với tinh thần rất dân chủ.
Những đổi mới trong hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội đã góp phần làm cho sinh hoạt của Quốc hội trở nên sôi động, thiết thực, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình và ủng hộ.
Tại các kỳ họp của Quốc hội khóa XIV, có thể thấy những cuộc chất vấn, tranh luận trên Nghị trường rất sôi nổi, nội dung tranh luận rất rõ ràng, không chỉ đại biểu tranh luận với các thành viên Chính phủ mà các đại biểu Quốc hội tranh luận với nhau. Tranh luận để tìm tiếng nói chung, tìm ra quyết sách đúng để đưa đất nước phát triển.
Quốc hội cũng đã thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, các công trình quan trọng quốc gia, chính sách dân tộc, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... đã góp phần vào việc duy trì sự ổn định và phát triển đất nước.
Quốc hội Việt Nam cũng hoàn thành tốt những nhiệm vụ quốc tế. Với tư cách là thành viên chính thức của Tổ chức liên nghị viện ASEAN (AIPO) và sau này là Liên minh nghị viện ASEAN (AIPA), Quốc hội Việt Nam luôn thể hiện trách nhiệm, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng AIPO/AIPA không ngừng lớn mạnh.
Đặc biệt, Quốc hội Việt Nam đã ghi dấu ấn sâu đậm bằng việc 3 lần tổ chức thành công kỳ họp Đại hội đồng AIPO 23 (năm 2002), Đại hội đồng AIPA 31 (năm 2010) và mới đây nhất là Đại hội đồng AIPA 41 (năm 2020).
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đầy khó khăn, với chủ đề “Ngoại giao Nghị viện vì một Cộng đồng ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng,” lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội đồng AIPA được tổ chức theo hình thức trực tuyến.
Điều này cho thấy quyết tâm và nỗ lực của Quốc hội nước chủ nhà Việt Nam và các nghị viện thành viên AIPA khắc phục khó khăn, củng cố đoàn kết và hợp tác trên tinh thần “gắn kết và chủ động thích ứng.”
Việc tổ chức thành công Đại hội đồng AIPA 41 dưới hình thức trực tuyến đã góp phần khẳng định năng lực và nâng cao vị thế của Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 - cuộc bầu cử lịch sử, có quy mô lớn nhất, diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát lần thứ 4 đã được tổ chức thành công rất tốt đẹp.
Với gần 70 triệu lá phiếu cử tri được bỏ tại 84.767 khu vực bỏ phiếu, tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,6% đã thể hiện ý thức trách nhiệm, niềm tin tưởng sâu sắc của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước, đồng thời, khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân, là mốc son mới trong lịch sử Quốc hội nước ta.
Và trong những ngày đầu năm 2022, Kỳ họp bất thường đầu tiên, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Quốc hội đã được khai mạc. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới gay gắt hơn do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trong cả nước.
Việc tổ chức kỳ họp đã cho thấy sự chủ động, tích cực của Quốc hội trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, sự phát triển của đất nước.
Có thể khẳng định trải qua 77 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã thể hiện tinh thần đoàn kết, tập trung trí tuệ, bản lĩnh, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của cử tri, ở giai đoạn cách mạng nào cũng luôn đồng hành cùng dân tộc, hoàn thành sứ mệnh và trọng trách của mình./.
Phương Anh (TTXVN/Vietnam+)
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam
 
Hội Sinh viên Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của sinh viên Việt Nam. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ kính yêu, Hội Sinh viên Việt Nam đã trải qua các cuộc kháng chiến vô cùng oanh liệt và các phong trào đấu tranh rộng lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc. Qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, được sự quan tâm giáo dục, bồi dưỡng của Đảng, Bác Hồ, Nhà nước và toàn xã hội, trong phong trào học sinh, sinh viên đã xuất hiện nhiều tấm gương học tập, nghiên cứu, sáng tạo và chiến đấu, hy sinh sáng ngời lý tưởng cách mạng, hình thành lên lớp học sinh, sinh viên mới “vừa hồng, vừa chuyên”: có lý tưởng, bản lĩnh vững vàng; hoài bão lớn, lối sống đẹp; kiến thức vững vàng, phong phú; có trách nhiệm với cộng đồng. Bằng các hoạt động thiết thực, phong phú, Hội Sinh viên Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ trong mỗi bước trưởng thành của phong trào thanh niên Việt Nam. Hiện nay, Hội Sinh viên Việt Nam có 28 Hội Sinh viên cấp tỉnh, 45 tổ chức Hội Sinh viên cấp trường trực thuộc Trung ương, 13 Hội Sinh viên Việt Nam ở ngoài nước với hơn 1,2 triệu hội viên. Nhìn lại lịch sử 73 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và sự chăm lo, dìu dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phong trào học sinh, sinh viên và tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam đã trưởng thành qua các thời kỳ cách mạng và trở thành niềm tự hào của lớp lớp thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam.
Trong giai đoạn 1925 - 1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, nhiều tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước lần lượt ra đời. Tổng Hội Sinh viên đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới ngọn cờ của Đảng. Tự hào đối với các thế hệ học sinh, sinh viên là việc thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, thành lập và hợp nhất các tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn và các chi bộ Đoàn, tổ chức Đoàn TNCS mà hầu hết đảng viên, đoàn viên đều là những đồng chí xuất thân từ học sinh, sinh viên, như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng... Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước, có cảm tình với cách mạng ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước, đặc biệt là tại Hà Nội - trung tâm đại học của cả Đông Dương.
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là thành quả to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, trong đó các tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên có nhiều đóng góp xứng đáng, với biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường đã được khắc ghi vào lịch sử dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám, học sinh, sinh viên hăng hái học tập, rèn luyện và tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xung kích thực hiện 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc dốt, diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm do Bác Hồ và Chính phủ đề ra. Từ năm 1947 đến 1949, ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội đã thành lập Hội Học sinh kháng chiến, Đoàn sinh viên kháng chiến sau đó phát triển ra nhiều trường ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam; số lượng học sinh, sinh viên được kết nạp vào Đoàn và Đảng khá đông. Các hoạt động của học sinh, sinh viên kháng chiến ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Cuộc đấu tranh của học sinh đã lan ra cả Đông Dương.
Ngày 09/11/1949, học sinh Huế bãi khoá, chính quyền bù nhìn Trung bộ đã thẳng tay khủng bố, ọc sinh, sinh viên quyết định bãi khoá để phản đối. Ngày 22/11/1949, trong lúc tại Huế đang tranh đấu, học sinh Sài Gòn bí mật vận động kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa và đề xướng hưởng ứng phản đối việc các nữ sinh Huế bị bắt, đồng thời yêu sách cải tổ chính sách giáo dục. Các cuộc bãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn liên tiếp nổ ra, đưa ra các yêu sách: chấm dứt khủng bố, đàn áp bắt bớ học sinh; trả tự do cho các học sinh bị bắt sau ngày chống bù nhìn Bảo Đại; bảo đảm an ninh và quyền lợi học tập của học sinh.
Giữa lúc ở Huế, Sài Gòn không khí tranh đấu đang sôi nổi, tại Hà Nội, học sinh cũng đang căm tức vì Pháp và bù nhìn bắt bớ một số anh chị em sau kỳ nghỉ học kỷ niệm Cách mạng tháng Tám. Học sinh Chu Văn An quyết định bãi khoá ngày 25/11/1949, trong các lớp trên tường la liệt khẩu hiệu. Toàn trường vang dậy những khẩu hiệu “Học sinh bãi khoá”, “Trả lại tự do cho bạn chúng ta”, “Đả đảo bù nhìn”...
Ngày 9/1/1950, Đoàn Thanh niên cứu quốc và Đoàn học sinh Sài Gòn - Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh, sinh viên các trường cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn biểu tình đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những học sinh, sinh viên bị bắt và mở lại trường học. Đoàn biểu tình đã bị đàn áp dã man. Cuộc đàn áp đẫm máu ngày 9/1/1950 và tinh thần chiến đấu hy sinh oanh liệt của anh Trần Văn Ơn làm dấy lên trong học sinh, sinh viên và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn lòng căm thù giặc và ý chí đấu tranh kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai, với sự kiện lịch sử đó, noi gương và ghi nhận tinh thần đấu tranh bất khuất của anh Trần Văn Ơn và học sinh, sinh viên trong những ngày đầu kháng chiến, Đại hội toàn quốc Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2/1950 tại Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9/1 hàng năm làm Ngày truyền thống học sinh - sinh viên. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V (22-23/11/1993) tại thủ đô Hà Nội đã quyết định đồng thời lấy ngày 9/1 làm Ngày truyền thống của Hội Sinh viên Việt Nam.
Trong giai đoạn này, tổ chức Hội (Đoàn) học sinh, sinh viên kháng chiến được thành lập cả 3 miền Bắc, Trung, Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên không chỉ gây tiếng vang trong cả nước mà còn được sự ủng hộ và hưởng ứng của các tổ chức học sinh, sinh viên, thanh niên tiến bộ trên thế giới.
Trong giai đoạn 1955-1975, học sinh, sinh viên và Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam (sau này là Hội Sinh viên Việt Nam) tích cực tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, hăng hái góp phần khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; biểu hiện sinh động thông qua các phong trào, các hoạt động như: xung kích diệt giặc dốt, tiến quân vào khoa học kỹ thuật,…Đặc biệt là phong trào “Ba sẵn sàng” được khởi phát trong sinh viên Hà Nội sau đó nhanh chóng lan nhanh sang các tỉnh, thành phố khác. Với khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hàng vạn sinh viên viên từ các trường đại học đã tình nguyện nộp đơn xin nhập ngũ, chiến đấu và hy sinh anh dũng, đó là những tấm gương như: Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Bùi Ngọc Dương,…Cùng thời điểm đó, Hội Liên hiệp học sinh, sinh viên miền Trung Bộ được thành lập, cùng với đông đảo quần chúng đã xuống đường đấu tranh chống lại chế độ độc tài Mỹ - Diệm. Tổng Hội Sinh viên Miền Nam và các tổ chức khác của học sinh, sinh viên đã lãnh đạo, chỉ đạo phong trào học sinh, sinh viên Miền Nam biểu tình chống bắt lính, chống sự can thiệp của Mỹ, đòi quyền tự do - dân chủ, khơi dậy lòng yêu nước, thúc giục thanh niên đứng lên đấu tranh chống kẻ thù dân tộc, tiêu biểu là những tấm gương như: Nguyễn Thái Bình, Quách Thị Trang,…
Sau hơn 30 năm bị chiến tranh tàn phá nặng nề, những năm 1975 - 1993, Hội Sinh viên Việt Nam một mặt củng cố xây dựng tổ chức Hội Sinh viên vững mạnh, thành lập Hội Sinh viên tại các tỉnh, thành phối, các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, thu hút đông đảo sinh viên tham gia tổ chức Hội Sinh viên; mặt khác cùng sinh viên cả nước đẩy mạnh các phong trào học tập, rèn luyện và góp phần khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới đất nước.
Sau Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V, ngày 09/02/1994, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra thông báo số 86 công nhận Hội Sinh viên Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của sinh viên Việt Nam. Phong trào sinh viên và tổ chức hoạt động Hội đã có bước phát triển mới, mặc dù vào thời điểm còn nhiều khó khăn như sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, sự chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, đất nước còn nghèo, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục chỉ đạo, triển khai các phong trào, chương trình có ý nghĩa như: “Học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp”, “Chăm lo đời sống, quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên”, “Hoạt động văn hóa thể thao và công tác xã hội”,…Đặc biệt, các hoạt động xã hội được hầu hết các trường đại học, cao đẳng tích cự tham gia như: “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Ánh sáng văn hóa hè”, “Mùa hè xanh”, “Hiến máu nhân đạo”,…và cao điểm là “Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè” (được phát động trên cả nước từ năm 2000) đã thu hút hàng triệu lượt thanh niên hăng hái tham gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương, đồng thời xây dựng hình ảnh đẹp của người sinh viên Việt Nam.
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sinh viên được xác định là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực để thực hiện sự nghiệp cao cả ấy. Đại hội toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2009 - 2013 đã xác định hai cuộc vận động đó là: cuộc vận động “Sinh viên 5 tốt” và cuộc vận động “Sinh viên xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh”; thông qua đó thực hiện mục tiêu đề ra của tổ chức đó là xây dựng Hội Sinh viên vững mạnh, tập hợp, đoàn kết, giáo dục sinh viên; phát huy tiềm năng của sinh viên xung kích, tình nguyện; tích cực chăm lo, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của sinh viên. Trên cơ sở kết quả của cuộc vận động “Sinh viên 5 tốt”, Đại hội IX Hội Sinh viên Việt Nam chính thức phát động phong trào “Sinh viên 5 tốt”. Đến nay, phong trào “Sinh viên 5 tốt” tiếp tục là phong trào chủ đạo của sinh viên Việt Nam, ngày càng thu hút sự quan tâm, tham gia của đông đảo sinh viên, thực sự là môi trường lý tưởng để sinh viên phấn đấu, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.
Tính đến nay, Hội Sinh viên Việt Nam đã trải qua 10 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi Đại hội là một mốc son đánh dấu sự phát triển của sinh viên Việt Nam, của phong trào sinh viên và công tác Hội Sinh viên Việt Nam.
Từ ngày 29-31/7/1955 tại Hà Nội, 244 đại biểu chính thức và 255 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam và đại biểu lưu học sinh ở nước ngoài đã họp Đại hội để thống nhất tổ chức, thống nhất lực lượng và phong trào sinh viên trong toàn quốc. Đại hội quyết định lấy tên mới của tổ chức sinh viên là “Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam”. Đây là bước ngoặt quan trọng của phong trào sinh viên nước ta nhằm tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp sinh viên thành một lực lượng hùng mạnh, đảm đương sứ mệnh lịch sử cao cả mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Từ ngày 5-7/5/1958, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với 228 đại biểu chính thức và 200 đại biểu dự thính. Đại hội đã vinh dự được Bác Hồ đến thăm và huấn thị. Bác dạy: “Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay. Học lao động phải có quyết tâm, muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu:
- Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.
- Yêu Nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của Nhân dân, biết Nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng với Nhân dân.
- Yêu xã hội chủ nghĩa: Yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân phải gắn liền với yêu xã hội chủ nghĩa, vì có tiến lên xã hội chủ nghĩa thì Nhân dân mình mới ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.
- Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân, yêu xã hội chủ nghĩa thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.
- Yêu khoa học và yêu kỷ luật: Bởi vì tiến lên xã hội chủ nghĩa thì phải có khoa học và kỷ luật…
Cuối cùng, Bác kết luận: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang… Thời đại bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu làm người anh hùng trong thời đại anh hùng”.
Ngày 03/3/1962, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với 550 đại biểu.
Từ ngày 06-07/01/1970, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV - Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội rất phấn khởi được đồng chí Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ đến dự và nói chuyện với các đại biểu.
Từ ngày 22-23/11/1993, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V đã được tổ chức tại Hà Nội sau 23 năm kể từ Đại hội lần thứ IV. Đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đến dự và chỉ đạo Đại hội. Sau Đại hội đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ V, ngày 8 -2-1994, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra thông báo số 86 công nhận Hội Sinh viên Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của sinh viên Việt Nam.
Từ ngày 22-23/12/1998, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Sinh viên Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của 400 đại biểu. Đồng chí Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đến dự và chỉ đạo Đại hội.
Từ ngày 29- 31/12/2003 và 1/1/2004, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Hội Sinh viên Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội với sự tham gia của 550 đại biểu. Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đến dự và chỉ đạo Đại hội.
Từ ngày 14 - 16/2/2009, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Sinh viên Việt Nam họp tại Thủ đô Hà Nội với sự tham gia của 647 đại biểu. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đến dự và chỉ đạo Đại hội.
Từ ngày 27- 29/12/2013, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ IX được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Đại hội vinh sự được đón đồng chí Nguyễn Sinh Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo.
Từ ngày 09-11/12/2018, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ X được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Tại Đại hội, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Đại hội, khẳng định vai trò to lớn của sinh viên Việt Nam đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong các thời kỳ cách mạng và trong nhiệm kỳ qua.
Năm 2023, kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam (09/01/1950 – 09/01/2023) cũng là năm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2023 – 2028. Qua 10 kỳ đại hội gắn với 73 năm xây dựng và phát triển của phong trào học sinh, sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam, chúng ta tự hào trong bất kỳ hoàn cảnh nào, học sinh, sinh viên Việt Nam luôn kế tục và phát huy những truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, được Đảng và Nhà nước dày công bồi dưỡng, đó là:
- Truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành với lý tưởng của Đảng.
- Truyền thống hiếu học, say mê sáng tạo, nghiên cứu để vươn tới đỉnh cao của khoa học, công nghệ, văn học - nghệ thuật, thể dục thể thao... tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong học tập nghiên cứu khoa học.
- Tinh thần sẵn sàng chia sẻ khó khăn với đồng bào, nhân dân. Đã có nhiều tấm gương quên mình giúp dân, hình ảnh sinh viên tình nguyện đã trở thành hình ảnh đẹp trong xã hội. Với những thành tích đạt được, Hội Sinh viên Việt Nam đã vinh dự được nhận các phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước như: “Huân chương Độc lập hạng nhất” (năm 2000), “Huân chương Hồ Chí Minh” (năm 2005), “Huân chương Sao vàng” (năm 2010), “Huân chương Độc lập hạng nhất” (lần thứ 2, năm 2020).
 (Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam)
           Chị Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, cha làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bì bún tại chợ Đất Đỏ; đầu năm 1946, thực dân Pháp trở lại chiếm các địa bàn tại Bà Rịa lần thứ hai, trong đó có Đất Đỏ. Chi Sáu lúc ấy cũng vừa tròn 11 tuổi, với bản chất thật thà, hiền lành và chất phát, yêu quê hương, đất nước, nên nhìn thấy những cảnh giết người, cướp của tàn bạo của bọn lính Pháp, trong lòng chị đã hình thành một ý chí căm thù mãnh liệt, sâu sắc bọn thực dân xâm lược.
         Trước sự đau thương và mất mát của quê hương, đã thúc đẩy các tầng lớp nhân dân trong huyện tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có chị Võ Thị Sáu; cuộc đời chị Sáu gắn bó cách mạng kể từ đó. Năm 1947, lúc 14 tuổi Sáu vừa làm nhiệm vụ mua hàng, vừa làm nhiệm vụ giao liên để nắm tình hình địch và làm mật hộ viên công an xung phong Đất Đỏ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng chị rất mưu trí, lanh lẹ và chị luôn hoàn thành nhiệm vụ được phân công.
         Năm 1949, chị đã trở thành người đội viên công an xung phong Đất Đỏ. Chị đã dũng cảm, sáng tạo và luôn hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ công an xung phong, tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, trong đó nổi bật nhất là trận đánh diệt tên cai tổng nổi tiếng ác ôn ở Đất Đỏ vào năm 1949 và dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh tuyên truyền do Pháp thực hiện tại huyện. Vì vậy, bọn thực dân Pháp vô cùng lo sợ và căm tức đối với hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong là chị Võ Thị Sáu, nên từ đó, bọn chúng ra sức truy lùng ráo riết.
       Vào tháng 12/1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Sáu đã sa vào tay giặc, hơn một tháng bị giam giữ tại nhà tù Đất Đỏ và khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không lấy được một lời khai nào của chị, sau đó bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hòa. Mặc dù bị địch giam giữ nhưng chị Sáu vẫn tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám và cùng các chị, em trong tù đấu tranh buộc địch phải cải thiện cuộc sống trong nhà tù. Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt và không nao núng của chị Sáu cùng những đồng chí trong tù, dù không đủ bằng chứng, nhưng thực dân Pháp cùng bọn tay sai vẫn kết án tử hình và đày chị ra Côn Đảo.
        Là người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, trung thành, chị Võ Thị Sáu vinh dự được Đảng ủy nhà tù Côn Đảo kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và công nhận là đảng viên chính thức.
        Chị Võ Thị Sáu hy sinh vào sáng ngày 23/01/1952. Khi giặc Pháp đưa chị ra xử bắn, với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu, cất lên bài hát Quốc tế ca, với tinh thần lạc quan cách mạng, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản.
        Chị Võ Thị Sáu hy sinh đã để lại sự thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đồng bào; đồng thời sự hy sinh của chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ.
        Chị Võ Thị Sáu là người tử tù đầu tiên ở Côn Đảo cũng là người nữ tù nhỏ tuổi nhất, chị đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu AHLL vũ trang nhân dân vào ngày 02/08/1993. Đó là tấm gương sáng của chị để lại cho chúng ta noi theo, chúng ta nguyện hết lòng ra sức phấn đấu rèn luyện về thể chất, nâng cao trình độ về mọi mặt để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương Đất Đỏ nói riêng và cả nước nói chung, đưa đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, văn minh và giàu đẹp./.
Bác Hồ với mùa xuân cuối cùng ở Pháp - 100 năm nhìn lại 
Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ đã từng đón Xuân trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, từ gian nan, đau khổ đến vinh quang, hạnh phúc. Tuy nhiên, mùa xuân Quý Hợi 1923 là mùa xuân đặc biệt, bởi đây không chỉ là mùa xuân cuối cùng Bác “ăn Tết” trên đất Pháp, mà còn là mùa xuân đánh dấu sự khởi đầu mới cho cách mạng Việt Nam.
Từ khi chào đời, ngày 19/5/1890, cho đến khi rời nơi “chôn nhau cắt rốn”, cậu bé Nguyễn Sinh Cung có 5 năm đầu đời ăn Tết ở quê nhà - xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An.
Cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo mẹ vào Huế ở làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang và đón Xuân, ăn Tết năm 1896 tại đây. Đến năm 1901, đang chuẩn bị đón Xuân năm Tân Sửu thì mẹ qua đời. Những năm tiếp theo, Nguyễn Sinh Cung trở lại Nghệ An rồi lại về kinh đô Huế. 
Mùa xuân năm 1911, sau một thời gian làm giáo viên dạy học ở Trường Dục Thanh, thị xã Phan Thiết (nay là tỉnh Bình Thuận), thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn tìm hiểu tình hình rồi quyết định rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911).
Mùa xuân năm 1912, anh thủy thủ Nguyễn Tất Thành đón Tết đầu tiên xa Tổ quốc tại nước Mỹ. Đến năm 1914, Nguyễn Tất Thành đến Luân Đôn, thủ đô nước Anh và đón giao thừa ở đó suốt 4 năm liền…
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp. Từ mùa xuân năm 1918 - 1923, Nguyễn Tất Thành đón Tết tại Paris - Thủ đô hoa lệ của nước Pháp. Trong những năm ấy, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã cùng nhóm những người Việt Nam yêu nước gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Versailles (6/1919). Mùa xuân năm 1921, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp ở thành Tours (12/1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương; Người đã ủng hộ Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Chuẩn bị đón Xuân năm 1922, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp tại Marseille; chuẩn bị cho việc xuất bản tờ báo Le Paria - cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa.
Đầu Xuân năm 1923, trong khi viết truyền đơn, cổ động, vận động mọi người mua báo Le Paria,Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính”. Người kêu gọi “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới” và kết thúc bằng khẩu hiệu “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại”(2) . Nguyễn Ái Quốc tổ chức Tết Nguyên đán Quý Hợi (năm 1923) tại trụ sở báo và ấn định mỗi người không quá 10 franc chi cho ăn Tết. Đây là mùa Xuân cuối cùng Người ở trên đất Pháp, mùa Xuân tạo tiền đề lớn cho những bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam.
Đến quê hương Cách mạng Tháng Mười, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra xu thế tất yếu của dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên thế giới, đó là độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(3).
Ngày 21/1/1924, khi đang học tập tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moscow, được tin Lênin từ trần, Nguyễn Ái Quốc cùng một số học sinh Trường Đại học Phương Đông đã tham dự lễ tang Lênin do Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức. Điều mong ước lớn của Nguyễn Ái Quốc là gặp Lênin khi đến nước Nga đã không thực hiện được. Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản khai mạc ngày 17/6/1924 tại Nhà hát lớn ở Moscow không có sự tham dự của V.I.Lênin - lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới, người sáng lập Quốc tế Cộng sản, người cổ vũ tư tưởng nhân dân lao động khắp năm châu. 
Những năm sau đó, Hồ Chí Minh thổ lộ rằng, thời gian ở nước Nga là một trong những khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời Người. Mặc dù vậy, Người vẫn hiểu là nên trở về Tổ quốc để biến ước mơ về một đất nước Việt Nam độc lập, tự do thành hiện thực. Người nói: “Ngay từ nhỏ và cả khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ trải qua cảm giác được tự do, niềm vui vô bờ bến và niềm hạnh phúc như lúc ở Moscow. Và dù sao, tôi vẫn ngồi đếm từng ngày trước khi diễn ra Đại hội của Quốc tế Cộng sản, để ngay sau bế mạc là tôi có thể lập tức lên đường và bắt đầu sự nghiệp hoạt động cách mạng trên thực tế của mình”.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Từ 1925-1927, Người mở các lớp, khóa huấn luyện chính trị tại phố Văn Minh (Quảng Châu)... Với bút danh là Vương, Người đã viết một số tác phẩm cách mạng như: “Lênin và các dân tộc thuộc địa”, “Lênin và phương Đông”, “Nông dân Trung Quốc”, “Đường Kách mệnh”...
Mùa xuân năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Berlin (Đức), từ đó viết thư gửi các đồng chí lãnh đạo Quốc tế nông dân ở Moscow. Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đón Tết ở Udon Thani (Thái Lan). Đây là mùa xuân đầu tiên từ khi rời Tổ quốc, Người được ăn Tết trong tình cảm ấm cúng, tình nghĩa của đồng bào, bà con kiều bào ta ở Thái Lan.
Mùa xuân năm 1930, Nguyễn Ái Quốc trở lại Trung Quốc, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản chủ trì thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc). Trong không khí của mùa xuân Canh Ngọ (1930), Người đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm vừa linh đình để chúc mừng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là một trong những mùa Xuân hạnh phúc nhất của Bác, đi vào lịch sử của dân tộc. Đảng ta ra đời vào mùa Xuân để rồi 15 năm sau và mãi mãi với thời gian, Đảng đem lại những mùa Xuân tươi đẹp, hạnh phúc cho dân tộc.
Mùa xuân năm 1941, ngày 28/1/1941 (Mùng 2 Tết Tân Tỵ), đúng 30 năm kể từ khi rời Bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc qua biên giới Việt - Trung, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Người về ở hang Pác Bó, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam kháng chiến giải phóng dân tộc. Ở Pác Bó, Người được đồng bào các dân tộc che chở, đùm bọc, yêu thương. Sau 30 năm đằng đẵng bôn ba đất khách quê người, nay cả đất trời mùa xuân quê hương - Tổ quốc đón Người trở về. Đó là mùa Xuân vô cùng đặc biệt. Lịch sử gắn Hồ Chí Minh với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân để thực hiện sứ mệnh mà dân tộc đã giao phó. Phải chăng đó “định mệnh” mang tính thời đại. Đúng như một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm rừng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.
Từ mùa Xuân Pác Bó năm ấy, Bác Hồ và Đảng ta đã mở Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp từ 15 đến 19/5/1941, quyết định đường lối cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chuyển hướng chiến lược, chuẩn bị lực lượng toàn dân đấu tranh, tiến tới cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945.
Khi đất nước giành được độc lập, trong Tuyên ngôn độc lập, Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết để đem đến những mùa xuân cho nhân dân.
5 năm sau ngày Nguyễn Ái Quốc về nước, cả dân tộc Việt Nam được hưởng cái Tết độc lập đầu tiên - Tết Bính Tuất năm 1946. Trong bài thơ Mừng báo Quốc gia, Người viết:
“Tết này mới thật Tết dân ta,
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia.
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu,
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ,
Cả nước vui chung phúc cộng hòa.
Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,
Những người chiến sĩ ở phương xa”.
Mùng Một Tết Bính Tuất (ngày 2/2/1946), báo Cứu quốc đăng Thư Chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc chóng thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi”.
Vậy là sau 23 năm rời nước Pháptừ mùa xuân Quý Hợi (1923), đến mùa xuân Tân Tỵ (1941), Bác Hồ và đồng bào ta mới có được một cái Tết thật của dân ta: Tết Tự do, Tết Dân chủ, Tết Cộng hòa. Dẫu đường còn dài và lắm chông gai, nhưng trong niềm tin của Người, mùa xuân mới với cây Dân chủ - Độc lập - Tự do chắc chắn sẽ đơm hoa kết trái hạnh phúc.
Trải qua 9 mùa xuân trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, với tinh thần “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã anh dũng chiến đấu đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù, lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Mùa xuân nối tiếp mùa xuân. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc ta do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo kéo dài hơn 20 năm, trải qua nhiều gian khổ, hy sinh, đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa non sông ta thu về một mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào đúng mùa Xuân năm 1975 đã minh chứng cho khát vọng độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam theo tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn chính xác.
Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn sinh động của sự nghiệp đổi mới là minh chứng hùng hồn cho chân lý: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Nhìn lại một cách xuyên suốt, từ khi Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp,chia tay Hội Liên hiệp thuộc địavà báo Người cùng khổ để đến Liên Xô (tháng 6/1923) đến Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930, suốt 93 năm lãnh đạo, trải qua 93 mùa xuân và 13 kỳ đại hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng xác định là sợi chỉ đỏ dẫn dắt cách mạng Việt Nam. Đó là sự trung thành, vận dụng đúng đắn, sáng tại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề căn bản, có tầm chiến lược, trong đó, vấn đề hàng đầu là kiên định và nhận thức đúng đắn về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới của đất nước, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”. 
Kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng, tròn 100 năm Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp để đến với quê hương Cách mạng Tháng Mười, đón Xuân mới Quý Mão 2023, chúng ta tự hào vì có Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất; tự hào về một Đảng Cộng sản do Người sáng lập và rèn luyện, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đồng thời,đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.
Năm mới Quý Mão 2023, năm bản lề đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030 và phấn đấu đến 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Muốn vậy toàn Đảng, toàn dân phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, giá trị văn hóa, tinh hoa thời đại để đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nhằm đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, lập nên những kỳ tích mới. Phấn đấu vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai cùng cường quốc năm châu trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang đến mùa xuân tốt đẹp cho nhân dân, cho dân tộc trong tiến trình lịch sử hướng đến mùa xuân của nhân loại như mong muốn của Hồ Chí Minh cách đây một thế kỷ./.
Nhìn lại một cách xuyên suốt, từ khi Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp,chia tay Hội Liên hiệp thuộc địavà báo Người cùng khổ để đến Liên Xô (tháng 6/1923) đến Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930, suốt 93 năm lãnh đạo, trải qua 93 mùa xuân và 13 kỳ đại hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng xác định là sợi chỉ đỏ dẫn dắt cách mạng Việt Nam. Đó là sự trung thành, vận dụng đúng đắn, sáng tại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề căn bản, có tầm chiến lược, trong đó, vấn đề hàng đầu là kiên định và nhận thức đúng đắn về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới của đất nước.

Theohttps://tuyengiao.phuyen.gov.vn/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/bac-ho-voi-mua-xuan-cuoi-cung-o-phap-100-nam-nhin-lai-4569.html

Những chính sách mới có hiệu lực trong tháng 01/2023
Từ tháng 1.2023 bỏ quy định nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính; áp chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty TNHH do nhà nước nắm 100% vốn điều lệ.
Theo Văn phòng Chính phủ, từ tháng 1.2023, một số chính sách mới của Chính phủ sẽ có hiệu lực.
Bỏ quy định nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính. Từ ngày 1.1.2023, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công sẽ có hiệu lực.
Theo đó, nghị định bỏ quy định về việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, chủ yếu thuộc nhiều lĩnh vực như: việc làm, bảo hiểm y tế, giáo dục, y tế, đất đai, thuế, nhà ở, nhà ở xã hội, điện lực, nuôi con nuôi…
Thay vào đó, khi thực hiện các thủ tục trên, người dân chỉ cần xuất trình một trong các loại giấy tờ: thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty TNHH do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ có hiệu lực từ 15.1.12023. Theo đó, Nghị định 97/2022/NĐ-CP quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi chuyển đổi sở hữu, sắp xếp lại công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Gồm: công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty độc lập. Việc sắp xếp được thực hiện khi chuyển đổi sở hữu, sắp xếp lại theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm: cổ phần hóa, bán toàn bộ doanh nghiệp; chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; chuyển thành đơn vị sự nghiệp; sáp nhập, hợp nhất, chia, tách; giải thể, phá sản.
4 trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản: Nghị định số 99/2022/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm có hiệu lực từ 15/1/2023. Trong đó, Nghị định quy định rõ 4 trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản (biện pháp bảo đảm).
Cụ thể, gồm: đăng ký thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lưu quyền sở hữu theo quy định của bộ luật Dân sự, luật khác liên quan; đăng ký theo thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm hoặc theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, trừ cầm giữ tài sản; đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ mà có nhiều bên cùng nhận bảo đảm hoặc trong trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận; đăng ký thay đổi nội dung đã được đăng ký (đăng ký thay đổi); xóa đăng ký nội dung đã được đăng ký (xóa đăng ký) đối với trường hợp quy định tại các điểm 1, 2 và 3.
Quy định mới về cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, theo đó Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Xây dựng và thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, bồi thường nhà nước, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý, công tác pháp chế; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ. Về cơ cấu tổ chức, Bộ Tư pháp có 25 đơn vị.
Ngân hàng nhà nước có 25 đơn vị theo Nghị định 102/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1.1.2023.
Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng T.Ư về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Về cơ cấu tổ chức, Ngân hàng Nhà nước có 25 đơn vị.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Nghị định 108/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định viện thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tư vấn về chính sách phát triển trong lĩnh vực khoa học xã hội; đào tạo nhân lực có trình độ cao về khoa học xã hội theo quy định của pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có 38 đơn vị.
Theo https://thanhnien.vn/nhung-chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-12023-post1537771.html
 
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ĐOÀN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây